Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần ăn cho Lợn rừng lai nuôi thịt tại Thái Nguyên

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi lợn rừng thương phẩm có hiệu quả được người dân ưa chuộng và đây lương sản phẩm đặc sản hiện nay. Xu thế nuôi thuần hóa lợn rừng Việt Nam, con lai giữa lợn đực rừng với con cái giống lợn địa phương và tận dụng nguồn thức ăn ngày đang có xu hướng chăn nuôi tập trung giống này rất mạnh, đồng thời vẫn phải đảm bảo vùng sinh thái phù hợp tập tính sinh học hoang dã của chúng. Đa dạng hóa sản phẩm chăn nuôi là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông  thôn ở Việt Nam. Cùng với sự xuất hiện của một số ngành chăn nuôi động vật quý hiếm như: nhím, dúi, hươu, nai, vv… đang thu hút mạnh cả người chăn nuôi và người tiêu dùng thì chăn  nuôi lợn rừng tỏ ra là một ngành rất có triển vọng nhưng còn khá mới với người dân. Thịt lợn rừng không những là món ăn ưa thích được hấp dẫn người tiêu dùng ở chất lượng thịt nạc, ít cholesterol, sạch và an toàn do được chăn nuôi bán tự nhiên.

Hiện nay, lợn rừng thuần khá hiếm do vậy việc tạo ra lợn rừng lai là rất cần thiết. Gần đây, một số công trình nghiên cứu của Sở KHCN tỉnh Bắc Kạn và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành lai tạo lợn rừng lai giữa lợn rừng Việt Nam và lợn rừng Thái Lan với lợn địa phương Pác Nặm. Nhóm lợn lai này mang các đặc điểm có giá trị kinh tế của hai giống lợn bố mẹ, tuy nhiên cần có những khảo sát đánh giá khả năng sinh trưởng, tính năng sản xuất thịt để tạo ra các sản phẩm có giá trị thực phẩm và giá trị kinh tế. (Trần Văn Phùng, Đỗ Tuấn Khiêm, Bùi Văn Quang (2008). Để đạt được mục đích chăn nuôi lợn thịt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hiện nay, ngoài chú trọng công tác giống, thú y, cải tạo giống vv… để nâng cao năng suất, tỷ lệ nạc nhiều đồng thời phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng rẻ tiền và được cân bằng, đầy đủ các chất phù hợp với mục đích sản xuất của từng loại lợn, các giai đoạn chăn nuôi lợn, cũng như các hướng nuôi lợn khác nhau vv…Trong đó chú ý đến năng lượng trao đổi trong khẩu phần ăn cho hợp lý để lợn sinh trưởng phù hợp. Nhu cầu năng lượng trong chăn nuôi lợn là nhu cầu rất cần thiết về sinh trưởng, tích lũy mỡ vừa phải để đảm bảo chất lượng thịt và đạt hiệu quả chăn nuôi cao.

Từ những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thí nghiệm này nhằm xác định ảnh hưởng của mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần đến sinh trưởng, chất lượng thịt và hiệu quả chăn nuôi lợn rừng lai thương phẩm, từ đó tìm ra mức năng lượng trao đổi hợp lý nhằm phát triển  chăn nuôi lợn rừng lai trên diện rộng, đặc biệt là vùng núi phía Bắc.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

- Nguyên liệu thức ăn bao gồm: Thức ăn xanh, củ quả, ngô, khô đậu tương, bột cá…

- Lợn rừng lai F2 [♂ rừng Việt Nam x ♀ F1 (♂ rừng x ♀ Địa phương)]

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thí nghiệm

Thí nghiệm tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, với tổng số 60 lợn rừng lai được chia làm 3 lô mỗi lô 20 con đảm bảo đồng đều về khối lượng, tính biệt, tình trạng sức khỏe.... Lợn được tẩy giun sán và tiêm phòng đầy đủ trước khi đưa vào thí nghiệm chính thức theo quy trình thú y của cơ sở, được nuôi theo chế độ ăn tự do, hình thức bán hoang dã.

2.1.2. Khẩu phần thức ăn thí nghiệm

- Công thức thức ăn thí nghiệm được xây dựng trên phần mềm Brill Formulation của Mỹ. Thí nghiệm được thiết kế ở mức lysine 10 g/kg thức ăn, protein thô trong khẩu phần là 16-14% tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng và vỗ béo  tương ứng với các lô thí nghiệm 1, 2, 3 có mức năng lượng trao đổi  2900; 3000 và 3100 kcal. Tính toán các axit amin theo đề xuất của ARC 1981, Wang, Fuller 1989, Cole 1992, Baker, Chung 1992.

- Về phương pháp chế biến thức ăn:

Các nguyên liệu thức ăn được dự trữ đầy đủ trong suốt thời gian thí nghiệm và được phân tích xác định thành phần hoá học tại Viện Khoa học sự sống- Đại học Thái Nguyên để làm căn cứ tính toán phối hợp khẩu phần. Thức ăn được trộn theo nguyên tắc vết dầu loang, sau đó trộn nhiều lần cho đều và thức ăn thành phẩm có dạng bột. Lợn được nuôi chăn thả, cho ăn theo bữa (2-3 bữa/ngày tùy theo tuổi).

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Sinh trưởng tích luỹ (kg/con); Tiêu tốn thức ăn và tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng (kg); Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng (đồng); Các chỉ tiêu về khảo sát và phân tích chất lượng thịt.

Kết quả thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Exell và Minitab 12.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm

Kết quả sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm ở Bảng 1 cho thấy: Khối lượng trung bình của lợn lúc bắt đầu thí nghiệm (2 tháng tuổi) của cả hai lô không có sự khác nhau với mức P>0,05. Cụ thể khối lượng lợn của lô 1 là 6,09 kg, lô 2 là 5,86 kg. Điều này chứng minh rằng việc bố trí lợn thí nghiệm ở các lô đảm bảo được yếu tố đồng đều về khối lượng. Đây chính là cơ sở ban đầu để đánh giá chính xác hơn về sinh trưởng của lợn thí nghiệm ở hai mức protein khác nhau.

Bảng 1.  Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm (kg/con).

STT

Diễn giải

Lô TN1

Lô TN2

Lô TN3

1

P bắt đầu TN (2 tháng tuổi)

4,34 ± 0,10

4,31 ± 0,06

4,39 ± 0,08

2

P sau 3 tháng TN

6,67 ± 0,12

6,70 ± 0,08

6,72 ± 0,10

3

P sau 4 tháng TN

9,79 ± 0,14

9,72 ± 0,14

9,73 ± 0,12

4

P sau 5 tháng TN

12,96 ± 0,11

12,93 ± 0,12

12,80 ± 0,12

5

P sau 6 tháng TN

16,20 ± 0,13

16,24 ± 0,12

16,10 ± 0,13

6

P sau 7 tháng TN

19,51 ± 0,14

19,57 ± 0,13

19,42 ± 0,14

7

P sau 8 tháng TN

24,44 ± 0,22

24,61 ± 0,16

24,42 ± 0,17

8

Bình quân cả kỳ TN

20,10a ± 0,24

20,29a ± 0,19

20,03a ± 0,21

9

So sánh (%)

100

100,95

99,65

a, b Trên hàng ngang, các chữ số có các số mũ mang các chữ cái giống nhau thì

khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)

Kết quả theo dõi về sinh trưởng cho thấy, nhóm lợn rừng lai giữa lợn đực rừng Việt Nam và lợn địa phương của 3 lô thí nghiệm đều có tốc độ sinh trưởng chậm. Trong đó, lợn rừng lai ở lô TN3 sinh trưởng chậm hơn lợn rừng lai của 2 lô TN1 và TN2. Nếu coi khối lượng lợn của lô TN1 là 100%, thì khối lượng lợn của lô TN2 tăng lên 0,95% và khối lượng lợn của lô TN 3 giảm đi 0,35%. Kết thúc đợt thí nghiệm ta thấy ở lô TN2 với mức năng lượng 3000 kcal/kg thức ăn, thì lợn có xu hướng phát triển nhanh hơn so với lợn của 2 lô còn lại. Điều này, cho thấy rằng năng lượng trao đổi chưa hợp lý ở giai đoạn đoạn sinh trưởng đã làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn. Kết quả của Phùng Thị Vân và cs (2007) cho biết sinh trưởng của lợn Co Mạ của Sơn La lúc 2, 6, 8 và 12 tháng tuổi đạt 4,8 kg; 13,7 kg; 22,2 kg và 43,8 kg.

Bảng 2. Sinh trưởng tuyệt  đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày)

STT

Diễn giải

Lô TN1

Lô TN2

Lô TN3

1

Giai đoạn 2 - 3 tháng TN

77,70 ± 3,45

79,48 ± 5,23

77,51 ± 7,34

2

Giai đoạn 3 - 4 tháng TN

103,98 ± 9,78

100,89 ± 7,99

100,34 ± 9,76

3

Giai đoạn 4 - 5 tháng TN

105,69 ± 11,23

106,98 ± 12,30

102,26 ± 13,11

4

Giai đoạn 5 - 6 tháng TN

108,02 ± 13,23

110,23 ± 15,12

109,91 ± 13,35

5

Giai đoạn 6 - 7 tháng

110,22 ± 15,45

111,05 ± 22,11

110,85 ± 23,71

6

Giai đoạn 7 - 8 tháng

164,44 ± 45,78

167,79 ± 44,12

166,81 ± 46,08

7

TB cả giai đoạn TN

111,67 ± 18,97

112,74 ± 21,23

111,28 ± 21,62

8

So sánh (%)

100

100,95

99,65

Kết quả bảng 2.4 cho thấy, sinh trưởng tuyệt đối của lợn rừng lai F2  có sự thay đổi giữa các lô thí nghiệm. Ở giai đoạn 2 - 3 tháng thí nghiệm,  sinh trưởng tuyệt đối của lợn lai F2 ở lô TN1 là 77,70 g/con/ngày, lô TN2 là 79,48 g/con/ngày và lô TN 3 là 77,51 g/con/ngày. Đến giai đoạn 7 - 8 tháng  thí nghiệm sinh trưởng tuyệt đối của lợn đã có sự biến đổi lớn, ở lô TN1 là 164,44 g/con/ngày, lô TN 2 là 167,79 g/con/ngày và lô TN 3 lợn sinh trưởng đạt 166,81 g/con/ngày.

3.2. Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm

3.2.1. Khả năng tiêu thụ thức ăn/ngày của lợn thí nghiệm

Bảng 3. Tiêu thụ thức ăn/ ngày của lợn thí nghiệm (kg/con/ngày)

STT

Diễn giải

Lô TN1

Lô TN2

Lô TN3

     
   

TA tinh

TA xanh

TA tinh

TA xanh

TA tinh

TA xanh

1

Giai đoạn 2 - 3 tháng TN

0,25

0,51

0,21

0,49

0,19

0,46

2

Giai đoạn 3 - 4 tháng TN

0,37

0,79

0,39

0,75

0,35

0,71

3

Giai đoạn 4 - 5 tháng TN

0,53

1,22

0,55

1,20

0,52

1,18

4

Giai đoạn 5 - 6 tháng TN

0,65

1,44

0,61

1,51

0,66

1,43

5

Giai đoạn 6 - 7 tháng

0,76

1,73

0,73

1,72

0,80

1,80

6

Giai đoạn 7 - 8 tháng

0,95

2,10

0,92

2,00

1,11

2,25

7

TB cả giai đoạn TN

0,59

1,30

0,57

1,28

0,61

1,31

8

So sánh (%)

100

100

97,15

98,46

103,42

100,51

Số liệu thu được ở Bảng 3 cho thấy khả năng tiêu thụ thức ăn tinh và thức ăn xanh trong ngày của các lô có sự khác nhau, với lô TN2 tiêu thụ thức ăn/ngày của lợn là thấp hơn so với 2 lô còn lại. Nếu coi tiêu tốn thức ăn của lô TN1 là 100%, thì tiêu tốn thức ăn tinh của lô TN2 giảm đi 2,85% và thức ăn xanh giảm đi 1,54%. Trong khi đó lô TN3 thức ăn tinh tăng lên 3,42% và thức ăn xanh tăng lên 0,51%. Vì vậy sử dụng mức năng lượng 3000 kcal/kg thức ăn vào chăn nuôi lợn rừng lai F2, thì tiêu thụ thức ăn thấp hơn cả. Điều này cho thấy khẩu phần có mức năng lượng trao đổi cao đáp ứng nhu cầu của cơ thể nên làm giảm lượng thức ăn ăn vào.

3.2.2. Tiêu tốn thức ăn và protein/kg tăng khối lượng

Bảng 4. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm

STT

Diễn giải

Lô TN1

Lô TN2

Lô TN3

1

Tổng KL lợn tăng trong kỳ TN

361,53

365,27

360,54

2

Tổng KL thức ăn tinh tiêu thụ

1895,40

1841,40

1960,20

3

Tổng KL thức ăn xanh tiêu thụ

4206,60

4141,80

4228,20

4

TTTA tinh/ kg tăng KL

5,24

5,04

5,44

5

So sánh (%)

100

96,16

103,70

6

TTTA xanh / kg tăng KL

11,64

11,34

11,73

7

So sánh(%)

100

97,45

100,79

Kết quả Bảng 4 cho thấy, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn rừng lai F2 ở lô TN2 là thấp hơn từ 2,55 % (Thức ăn xanh) và 3,84% (thức ăn tinh) so với 2 lô còn lại mà tốc độ sinh trưởng của lô TN2 lại cao hơn. Lô có năng lượng trao đổi 3100 kcal thì tiêu tốn thức ăn tinh và thức ăn xanh tương ứng tăng lên từ 3,70 % - 0,79 %. Do vậy, nuôi lợn lai F2 với mức năng lượng trong khẩu phần là 3000 kcal/kg thức ăn, sẽ đem lai hiệu quả kinh tế cao. Kết quả nghiên cứu của Lê Đình Cường và cs (2008), cho thấy tiêu tốn thức ăn tinh/kg tăng khối lượng ở lợn Mường Khương là 3,56 ± 0,8, thấp hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi về lợn rừng lai F2 (5,04 - 5,44 kg/con/ngày). Điều này tương đối phù hợp với kết quả thí nghi

Tác giả bài viết: